
Mivec của hãng Mitsubishi.
MIVEC (Mitsubishi Innovative Valve timing
Electronic Control system) là tên viết tắt của công nghệ
động cơ với xupáp nạp biến thiên được phát triển bởi hãng Mitsubishi. Cũng
tương tự như các hệ thống với xupáp nạp biến thiên được đề cập kỳ trước, hệ
thống này cũng có khả năng thay đổi hành trình hoặc thời gian đóng mở các xupáp
bằng cách sử dụng hai loại vấu cam khác nhau. Ở dải tốc độ thấp, vấu cam nhỏ dẫn
động các xupáp, động cơ hoạt động ở trạng thái không tải ổn định, lượng khí
thải giảm và mômen xoắn tăng lên ở tốc độ thấp. Khi vấu cam lớn được kích hoạt,
tốc độ tăng lên, các xupáp được mở rộng hơn và thời gian mở xupáp tăng lên. Bởi
vậy làm tăng lượng khí nạp trong buồng cháy, công suất và mômen xoắn tăng, dải
tốc độ động cơ được mở rộng.

Động cơ 4G92
đầu tiên của Mitsubishi sử dụng công nghệ MIVEC
MIVEC được Mitsubishi giới thiệu lần đầu
tiên vào năm 1992 trên động cơ 4G92, dung tích 1597 cc, DOHC không tăng áp, 4
xilanh thẳng hàng, mỗi xilanh gồm hai xupáp nạp và hai xupáp xả. Thế hệ công
nghệ này ra đời với tên gọi “Mitsubishi
Innovative Valve timing and lift Electronic Control”. Chiếc xe đầu tiên
sử dụng công nghệ này là chiếc hatchback Mitsubishi Mirage và chiếc sedan Mitsubishi Lancer. Trong khi một
động cơ 4G92 thông thường sinh ra công suất 145 mã lực ở tốc độ 7000 vòng/phút
thì một động cơ được trang bị công nghệ MIVEC có thể sinh ra tới 175 mã lực ở
vòng tua 7500 vòng/phút. Một số các cải tiến về công nghệ khác cũng được ứng
dụng khi công nghệ này được áp dụng rộng rãi vào năm 1994 trên xe Mitsubishi
FTO. Mặc dù vậy các thiết kế mới nhằm nâng cao hiệu suất vẫn phải đảm bảo tính
tiết kiệm nhiên liệu và giảm ô nhiễm khí thải ở dòng xe Mitsubishi.

Chiếc Mitsubishi Grandis sử dụng
công nghệ MIVEC
Hoạt động.
Nhằm tối ưu hiệu suất động cơ ở giải tốc độ
thấp và trung bình, mặt khác lại nâng cao công suất ở vòng tua cao, hệ thống
MIVEC đạt được cả hai mục tiêu trên nhờ chủ động điều khiển cả thời điểm và
khoảng thời gian đóng mở xupáp. Hệ thống MIVEC điều khiển hoán đổi các vấu cam
có cùng chức năng. Một số các loại xe đua thể thao đã áp dụng biện pháp công
nghệ này nhằm mục đích sinh ra nhiều công suất hơn. Việc chuyển đổi vấu cam
được thực hiện một cách tự động nhờ các ECU của hệ thống MIVEC, dựa trên các
tín hiệu đầu vào như tốc độ động cơ, số vòng quay trục khuỷu, nhiệt độ nước làm
mát, độ mở bướm ga,…ECU sẽ đưa ra tín hiệu điều khiển để kích hoạt hoặc hủy chế
độ MIVEC.

Hai cam có hai biên dạng khác nhau được sử
dụng ở hai chế độ khác nhau của động cơ: một cam có biên dạng nhỏ, dùng ở dải
tốc độ thấp mà ta gọi tắt là cam tốc độ thấp và vấu cam còn lại có biên dạng
lớn hơn, dùng ở dải tốc độ cao gọi tắt là cam tốc độ cao. Các vấu cam tốc độ
thấp và các trục cò mổ, dẫn động các xupáp nạp, đặt đối xứng nhau qua cam tốc
độ cao ở giữa. Mỗi xupáp nạp được dẫn động bởi một cam tốc độ thấp và trục cò
mổ. Để chuyển sang cam tốc độ cao, một tay đòn chữ T được ép vào các khe ở đỉnh
trục cò mổ của cam tốc độ thấp. Điều này
cho phép các cam tốc độ cao dịch chuyển
cùng với cam tốc độ thấp. Lúc này các xupáp thay đổi hành trình khi được dẫn
động bởi cam tốc độ cao.
Ở dải tốc độ thấp, tay đòn chữ T trượt ra
khỏi khe một cách tự do, cho phép các cam tốc độ thấp dẫn động các xupáp. Ở dải
tốc độ cao, áp suất thủy lực đẩy piston thủy lực lên, bởi vậy tay đòn chữ T lại
trượt vào các khe cò mổ để chuyển sang vận hành với các cam tốc độ cao.

Nói chung, chế độ MIVEC được kích hoạt để
chuyển sang vấu cam tốc độ cao khi tốc độ động cơ tăng và chuyển sang vấu cam
tốc độ thấp khi tốc độ động cơ giảm. Ở dải tốc độ thấp, thời gian đóng mở các
xu páp nạp và xả trùng nhau tăng để tăng sự ổn định ở chế độ không tải. Khi
tăng tốc, thời điểm xupáp nạp đóng được làm chậm lại để giảm áp lực ngược đồng
thời cải thiện hiệu suất khí nạp, giúp tăng công suất động cơ cũng như giảm hệ
số ma sát.

Hệ thống MIVEC điều khiển bốn chế độ vận
hành tối ưu của động cơ như sau:
- Trong hầu hết các điều kiện làm việc, để đảm bảo hiệu suất nhiên
liệu cao nhất, thời gian đóng xupáp trùng nhau tăng lên để giảm tổn thất
bơm. Thời điểm xupáp xả mở được làm chậm lại để tăng tỷ số nén, tăng tính
kinh tế của nhiên liệu.
- Khi cần công suất cực đại (tốc độ và tải trọng cao), thời điểm đóng
xupáp nạp được làm chậm lại để đồng nhất hóa không khí nạp với thể tích
nạp là lớn nhất.
- Ở dải tốc độ thấp và tải nặng, MIVEC đảm bảo tối ưu mômen xoắn do
thời điểm xupáp nạp đóng được làm sớm hơn để đảm bảo đủ lượng khí nạp.
Cùng lúc đó, thời điểm xupáp xả mở được làm chậm lại để tăng tỷ số nén và
cải thiện hiệu suất động cơ.
- Ở chế độ không tải, thời điểm xupáp xả và nạp trùng nhau được loại
bỏ để ổn định quá trình cháy.